Câu hỏi thường gặp
Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật (“Công ước Berne”) được ký tại thành phố Bern (Thụy Sĩ) năm 1886 để thiết lập và bảo vệ quyền tác giả giữa các quốc gia tham gia Công ước. Theo đó, chủ sở hữu tác phẩm/tác giả sẽ được đối xử và hưởng quyền tác giả ở các nước là thành viên của Công ước đúng như những gì pháp luật của nước đó dành cho công dân của họ, không lệ thuộc vào một thể thức, thủ tục nào và không phụ thuộc vào việc tác phẩm có được bảo hộ hay không ở Quốc gia gốc của tác phẩm.
Hiện tại, Công ước Berne đã có hơn 170 quốc gia thành viên trong đó có Việt Nam.
Nhãn hiệu (NH) là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
NH giúp người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn để mua đúng hàng hóa/dịch vụ của cơ sở sản xuất, kinh doanh mà họ muốn.
Một dấu hiệu, để có thể được bảo hộ là NH, cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Hay nói cách khác, không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đang được bảo hộ.
Về nguyên tắc, dấu hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt là các hình và hình hình học đơn giản, các chữ số, chữ cái, các chữ không có khả năng phát âm như một từ ngữ; chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ không thông dụng…Tuy nhiên, một số (rất ít) dấu hiệu rơi vào trường hợp nói trên có thể được bảo hộ nếu chúng được biết đến rộng rãi qua quá trình sử dụng (ví dụ, dấu “Swoosh huyền” của hãng Nike…). Các luật sư, chuyên gia về nhãn hiệu có thể giúp làm rõ điều này khi bạn cần.
Ngoài NH thông thường như đề cập ở trên, pháp luật Việt Nam còn bảo hộ các loại NH sau:
Nhãn hiệu tập thể là NH dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NH đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó;
Nhãn hiệu chứng nhận là NH mà chủ sở hữu NH cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu. Ví dụ, ISO 9000 là một nhãn hiệu chứng nhận được công nhận rộng rãi trên thế giới;
Nhãn hiệu liên kết là các NH do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau.
Tổ chức hoặc cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hoá hoặc dịch vụ, do mình sản xuất hoặc cung cấp, ví dụ như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể…đều có quyền nộp đơn đăng ký NH.
Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp (ví dụ, hợp tác xã, hiệp hội, hoặc một tập hợp từ hai doanh nghiệp trở lên…) có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên thuộc tập thể của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể.
Tổ chức có chức năng kiểm soát chất lượng, đặc tính, xuất xứ hàng hoá với điều kiện tổ chức này không tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đó (ví dụ, Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO), Trung tâm chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn (QUACERT)…) có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận.
Phạm vi bảo hộ của một NH, được ghi trong Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (GCNĐKNH), chỉ giới hạn (i) trong lãnh thổ của quốc gia mà NH đó được bảo hộ (ví dụ, chỉ ở Việt Nam) và (ii) cho các sản phẩm/dịch vụ cụ thể đã đăng ký và được chấp nhận, được phân loại theo Bảng phân loại sản phẩm/dịch vụ Quốc tế Nice, bao gồm 34 Nhóm sản phẩm và 11 Nhóm dịch vụ.
Một NH đăng ký cho nhiều Nhóm hàng hoá/dịch vụ thì lệ phí đăng ký sẽ cao hơn so với đăng ký cho 01 Nhóm.
Một GCNĐKNH được cấp sẽ có hiệu lực 10 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp. Bởi vậy, một NH sẽ tồn tại chừng nào còn nộp đủ lệ phí gia hạn.
NH và danh mục hàng hóa, dịch vụ không thể được sửa đổi sau khi đăng ký, trừ trường hợp sửa đổi để giới hạn [bớt] danh mục hàng hóa,dịch vụ.
GCNĐKNH có thể bị yêu cầu hủy bỏ hiệu lực [bởi một bên thứ ba] nếu chủ GCNĐKNH không sử dụng NH mà không có lí do chính đáng trong 05 năm liên tục trước ngày yêu cầu hủy bỏ hiệu lực được nộp tới Cục SHTT.
Bởi vậy, NH sau khi đăng ký cần được sử dụng. Việc sử dụng không nhất thiết đòi hỏi phải có sản phẩm/dịch vụ thực sự trên thị trường mà có thể là các hình thức quảng cáo, thư chào hàng, in và phân phát catalog sản phẩm gắn NH…
Nếu không gặp trở ngại (ví dụ, bị bên thứ ba phản đối...), GCNĐKNH sẽ được cấp trong khoảng thời gian từ 12 đến 15 tháng kể từ khi nộp đơn, và trải qua các giai đoạn, gồm (i) thẩm định đơn về hình thức xem có đúng các quy định hay không (1 tháng kể từ ngày nộp đơn), (ii) công bố đơn (2 tháng, kể từ ngày đơn được chấp nhận là đơn hợp lệ, để công chúng có thể có ý kiến, và (iii) thẩm định đơn về nội dung và cấp văn bằng (9 tháng, kể từ ngày công bố đơn).
Không. Ở Việt Nam, quyền đối với nhãn hiệu chỉ phát sinh trên cơ sở GCNĐKNH do Cục Sở hữu trí tuệ cấp. Vì vậy, khi chưa được cấp GCNĐKNH nhãn hiệu, khó có khả năng ngăn chặn người khác sử dụng một nhãn hiệu tương tự hay hoàn toàn giống với nhãn hiệu đang được thẩm định.
Có. Người nộp đơn có thể sửa đổi NH và/hoặc các sản phẩm/dịch vụ đăng ký trong giai đoạn thẩm định với điều kiện là việc sửa đổi đó không làm thay đổi bản chất của NH so với khi nộp và/hoặc không mở rộng phạm vi bảo hộ của các sản phẩm/dịch vụ xin đăng ký.
Không bắt buộc, nhưng nên tra cứu để biết khả năng NH có thể được chấp nhận bảo hộ hay không. Một NH bị cho là không có khả năng phân biệt, hoặc trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu đã đăng ký…có thể là lý do khiến đơn bị từ chối trong quá trình thẩm định. Nếu điều đó xảy ra (và thường xảy ra khi không tra cứu trước nộp đơn!), không chỉ mất chi phí đăng ký mà còn tốn thời gian vô ích.
Các chuyên gia nhãn hiệu sẽ giúp bạn tra cứu NH với một chi phí hợp lý.
Rất nên. Giống như hầu hết các quốc gia khác là thành viên của Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Việt Nam áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, có nghĩa là trong trường hợp có 2 hay nhiều cá nhân hoặc tổ chức cùng nộp một đơn đăng ký NH cho (các) hàng hoá/dịch vụ giống nhau thì chỉ duy nhất cá nhân/tổ chức nộp đơn đầu tiên mới được xem xét bảo hộ.
NH được coi là nổi tiếng khi đã và đang được sử dụng liên tục cho hàng hóa, dịch vụ có uy tín, được biết đến một cách rộng rãi. Theo Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (mà Việt Nam là một thành viên), NH nổi tiếng được đặc cách bảo hộ mà không cần thủ tục đăng ký xin bảo hộ. Vấn đề là có đủ bằng chứng thực tế và thuyết phục để chứng minh là NH nổi tiếng hay không.
Ở Việt Nam, nhãn hiệu nổi tiếng sẽ do Cục SHTT xem xét và công công nhận trên cơ sở các chứng cứ pháp lý và thực tế sử dụng của NH đó, dựa trên Điều 75. Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng của Luật SHTT.
Kiểu dáng công nghiệp (KDCN) là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.
Sản phẩm được hiểu là đồ vật, dụng cụ, thiết bị, phương tiện, hoặc bộ phận dùng để lắp ráp, hợp thành các sản phẩm đó, được sản xuất bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp, có kết cấu và chức năng rõ ràng, được lưu thông độc lập.
Sản phẩm có những đặc tính sau không được bảo hộ là KDCN:
- Hình dáng bên ngoài do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có hoặc chỉ mang đặc tính kỹ thuật;
- Hình dáng bên ngoài của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng:
- Hình dáng bên ngoài chỉ có giá trị thẩm mỹ (không dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp):
- Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp:
- Các đối tượng trái với lợi ích xã hội, trật tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo.
a) Tác giả tạo ra kiểu dáng công nghiệp bằng công sức và chi phí của mình;
b) Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra kiểu dáng thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý.
Người có quyền đăng ký quy định tại Điều này có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp đã nộp đơn đăng ký.
KDCN được bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Có tính mới trên phạm vi thế giới, nghĩa là chưa từng được bộc lộ công khai ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, dưới hình thức công bố hoặc sử dụng.
- Có tính sáng tạo, nghĩa là kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng.
- Có khả năng áp dụng công nghiệp, nghĩa là có khả năng dùng làm mẫu để chế tạo lặp đi lặp lại hàng loạt sản phẩm có kiểu dáng giống hệt bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.
KDCN không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký KDCN được nộp trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày công bố:
- KDCN bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký;
- KDCN được người có quyền đăng ký công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
- KDCN được người có quyền đăng ký trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.

