Câu hỏi thường gặp
Đơn đăng ký KDCN được nộp cho Cục SHTT.
Kể từ ngày được tiếp nhận, đơn sẽ được xem xét theo trình tự sau:
- Thẩm định hình thức: 01 tháng
- Công bố đơn: trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày có Quyết định chấp nhận đơn hợp lệ
- Thẩm định nội dung: không quá 07 tháng, kể từ ngày công bố đơn.
Trên thực tế, các thời hạn nêu trên thường bị kéo dài vì nhiều lý do.
Theo quy định, trước khi Cục SHTT ra thông báo từ chối chấp nhận đơn hợp lệ, thông báo từ chối cấp văn bằng bảo hộ (VBBH) hoặc quyết định cấp VBBH, người nộp đơn có thể chủ động hoặc theo yêu cầu của Cục SHTT sửa đổi hoặc bổ sung tài liệu đơn.
Việc sửa đổi, bổ sung đơn không được mở rộng phạm vi (khối lượng) bảo hộ đã bộc lộ trong bản mô tả và bộ ảnh chụp/bản vẽ ban đầu và không được làm thay đổi bản chất của KDCN nêu trong đơn. Nói cách khác, đối tượng thể hiện trong bộ ảnh chụp/bản vẽ và bản mô tả mới không được khác biệt đáng kể với KDCN đã thể hiện ban đầu. Nếu việc sửa đổi, bổ sung mở rộng phạm vi bảo hộ hoặc làm thay đổi bản chất KDCN sẽ không được chấp nhận, phải nộp đơn mới, mọi thủ tục được tiến hành lại từ đầu.
Theo quy định, mỗi đơn chỉ được yêu cầu cấp một Bằng độc quyền KDCN. Tuy nhiên, một Bằng độc quyền KDCN có thể được cấp cho nhiều KDCN trong các trường hợp sau đây:
- Yêu cầu bảo hộ KDCN của nhiều sản phẩm trong một bộ sản phẩm, trong đó mỗi sản phẩm có một KDCN tương ứng. Các sản phẩm trong bộ sản phẩm phải thể hiện ý tưởng sáng tạo chung duy nhất, được sử dụng cùng nhau hoặc để thực hiện chung một mục đích;
- Yêu cầu bảo hộ một KDCN của một sản phẩm kèm theo một hoặc nhiều phương án biến thể của KDCN đó. Phương án đầu tiên phải là phương án cơ bản. Các phương án biến thể của một KDCN phải không khác biệt đáng kể với phương án cơ bản và không khác biệt đáng kể với nhau.
Không. Chỉ sản phẩm hoàn chỉnh và các bộ phận của sản phẩm có thể tách rời để lưu thông độc lập mới có thể đăng ký KDCN. Một bộ phận (phần) của sản phẩm mà không thể tách rời khỏi sản phẩm đó và không có khả năng lưu thông độc lập thì không thể đăng ký bảo hộ KDCN.
Bằng độc quyền KDCN là văn bằng nhà nước cấp cho chủ sở hữu KDCN xác nhận KDCN và quyền độc quyền sử dụng hoặc định đoạt KDCN trong thời gian hiệu lực của bằng.
Bằng độc quyền KDCN được cấp có hiệu lực 05 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn không quá 02 lần liên tiếp, mỗi lần 05 năm. Trường hợp KDCN có nhiều phương án thì Bằng có thể được gia hạn đối với tất cả hoặc một số phương án, trong đó phải có phương án cơ bản.
Để được gia hạn hiệu lực, trong vòng 06 tháng trước ngày Bằng hết hiệu lực, chủ Bằng phải nộp đơn yêu cầu gia hạn tới Cục SHTT.
Đơn yêu cầu gia hạn hiệu lực có thể nộp muộn hơn thời hạn quy định nêu trên nhưng không được quá 06 tháng kể từ ngày Bằng hết hiệu lực và chủ Bằng phải nộp lệ phí gia hạn cộng với 10% lệ phí gia hạn cho mỗi tháng nộp muộn.
Có thể nộp đơn giấy, trực tiếp tới Cục SHTT hoặc nộp đơn trực tuyến qua Cổng dịch vụ công trực tuyến của Cục SHTT.
Để nộp đơn trực tuyến người nộp đơn cần có chứng thư số và chữ ký số, đăng ký tài khoản trên Hệ thống tiếp nhận đơn trực tuyến và được Cục SHTT phê duyệt tài khoản.
Giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm (dụng cụ, máy móc, thiết bị, vật liệu, chất liệu…) hoặc quy trình (quy trình công nghệ; phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý...) đều có thể được bảo hộ là sáng chế/giải pháp hữu ích (GPHI).
– Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
– Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;
– Cách thức thể hiện thông tin;
– Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;
– Giống thực vật, giống động vật;
– Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;
– Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật.
3. Bằng Độc quyền sáng chế/GPHI là gì?
Bằng độc quyền sáng chế/GPHI là văn bằng nhà nước cấp cho chủ sở hữu sáng chế/GPHI xác nhận sáng chế/GPHI được bảo hộ và quyền độc quyền sử dụng hoặc định đoạt sáng chế/GPHI trong thời gian hiệu lực của bằng.
Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện: (i) có tính mới, (ii) có trình độ sáng tạo, và (iii) có khả năng áp dụng công nghiệp.
Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền GPHI nếu đáp ứng các điều kiện: (i) có tính mới, (ii) không phải là hiểu biết thông thường, và (iii) có khả năng áp dụng công nghiệp.
Dễ nhận thấy là điều kiện bảo hộ của sáng chế cao hơn so với giải pháp hữu ích. Bởi vậy, nhiều quốc gia gọi GPHI với thuật ngữ sáng chế nhỏ, mẫu hữu ích …
Đơn gồm Tờ khai đăng ký sáng chế/GPHI và Bản mô tả sáng chế (theo mẫu của Cục SHTT). Đây vừa là tài liệu pháp lý vừa là tài liệu kỹ thuật, nội dung gồm tóm tắt, mô tả ngắn gọn về lĩnh vực sử dụng, tình trạng kỹ thuật, bản chất kỹ thuật của sáng chế/GPHI, mô tả chi tiết các phương án thực hiện sáng chế/GPHI, các hình vẽ kèm theo (nếu có), những lợi ích (hiệu quả) mà sáng chế/GPHI có thể mang lại…Về nguyên tắc, sáng chế/GPHI nêu trong đơn phải được mô tả đầy đủ và chi tiết đến mức mà một người có kỹ năng bình thường trong lĩnh vực kỹ thuật đó có thể chế tạo và sử dụng nó. Phần quan trọng nhất của đơn là “Yêu cầu bảo hộ” được tách riêng sau phần mô tả, dùng để xác định phạm vi quyền đối với sáng chế/GPHI.
Ngày ưu tiên là ngày nộp đơn hợp lệ tại Cục SHTT Việt Nam hoặc là ngày nộp đơn hợp lệ tại một quốc gia khác là thành viên của Công ước Paris trong khoảng thời gian theo quy định.
Ngày nộp đơn hợp lệ tại Cục SHTT là ngày mà Cục SHTT công nhận người nộp đơn đã đáp ứng được các điều kiện về hình thức của đơn. Nó có thể là ngày nộp đơn đầu tiên trong trường hợp đơn không phải sửa chữa, bổ sung gì, hoặc là ngày sửa chữa bổ sung đơn lần cuối cùng tại Cục SHTT (nếu đơn chưa chính xác phải sửa chữa, bổ sung thêm các giấy tờ, tài liệu,…)
Ngày nộp đơn hợp lệ tại một quốc gia khác là thành viên của Công ước Paris là ngày nộp đơn trước khi nộp đơn tại Cục SHTT Việt Nam nhưng quá 12 tháng đối với đơn đăng ký sáng chế/GPHI.
Ngày ưu tiên là cơ sở quan trọng để xác định tính mới của sáng chế/GPHI và xác định chủ thể nộp đơn sớm nhất.Đơn sau khi nộp sẽ được:
– Thẩm định hình thức, trong vòng 1 tháng kể từ ngày hoàn tất toàn bộ các tài liệu yêu cầu. Nếu đáp ứng được tất cả các các yêu cầu về mặt hình thức, quyết định chấp nhận đơn hợp lệ sẽ được gửi đến người nộp đơn và đơn được công bố;
– Thẩm định nội dung: Trong vòng 42 tháng kể từ ngày ưu tiên đối với đơn sáng chế và 36 tháng kể từ ngày ưu tiên đối với đơn GPHI. Để được thẩm định nội dung, người nộp đơn phải nộp yêu cầu thẩm định nội dung tới Cục SHTT. Nếu không, đơn sẽ bị coi như rút. Thời hạn thẩm định nội dung là 12 tháng tính từ ngày nộp yêu cầu thẩm định nội dung hoặc ngày công bố đơn, tùy theo ngày nào muộn hơn.
Nếu đáp ứng được tất cả các yêu cầu về thầm định nội dung, thông báo dự định cấp bằng sẽ được gửi đến người nộp đơn. Người nộp đơn sẽ có 01 tháng để nộp lệ phí đăng bạ và công bố. Văn bằng bảo hộ sẽ được cấp sau khi toàn bộ các lệ phí đã được nộp.
Người nộp đơn và mọi tổ chức/cá nhân có quyền/lợi ích liên quan trực tiếp đến quyết định hoặc thông báo liên quan đến việc xử lý đơn có quyền khiếu nại với cơ quan quản lý nhà nước liên quan hoặc khởi kiện ra toà án theo quy định của Luật SHTT và pháp luật có liên quan. Khiếu nại lần đầu được thực hiện trong vòng 90 ngày (với Cục SHTT), kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hoặc thông báo của Cục SHTT về việc xử lý đơn.Khiếu nại lần thứ hai, thường với Bộ trưởng Bộ KH-CN, là 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại đó không được giải quyết hoặc tính từ ngày người có quyền khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, hoặc khởi kiện tại toà án. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ KH-CN thì người khiếu nại có quyền khởi kiện tại toà án.
Bằng độc quyền sáng chế có thời hạn hiệu lực 20 năm, Bằng độc quyền GPHI có thời hạn hiệu lực 10 năm, tính từ ngày nộp đơn, và không được gia hạn.
Để bảo hộ sáng chế ở nước ngoài, cần phải nộp đơn đăng ký sáng chế tại quốc gia muốn được bảo hộ. Hoặc nếu quốc gia đó, như Việt Nam, là thành viên của Hiệp ước Hợp tác Sáng chế (PCT), thì có thể nộp một đơn quốc tế theo PCT, trong đó chỉ định (các) quốc gia cần bảo hộ
Không. Vì lý do an ninh quốc gia, sáng chế của tổ chức, cá nhân Việt Nam và sáng chế được tạo ra tại Việt Nam không được Nhà nước Việt Nam bảo hộ nếu đã nộp đơn đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp ở nước ngoài trái với quy định sau:
(i) Chỉ được nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế ở nước ngoài khi đã nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam và đã kết thúc thời hạn 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đó; và
(ii) Không được nộp đơn yêu cầu bảo hộ ở nước ngoài khi sáng chế được xác định là sáng chế mật theo pháp luật về bảo hộ bí mật nhà nước và đã có thông báo của cơ quan có thẩm quyền.
Nên. Cũng như hầu hết các quốc gia trên thé giới, Luật SHTT Việt Nam áp dụng nguyên tắc "nộp đơn đầu tiên". Theo đó, nếu hai nhà sáng chế độc lập tạo ra cùng một sáng chế/GPHI và cả hai đều nộp đơn đăng ký thì Cục SHTT sẽ trao bằng độc quyền sáng chế/GPHI cho người nộp đơn đầu tiên, bất kể ai là người tạo ra sáng chế/GPHI trước.

